Thực trạng Giáo dục & đào
tạo hiện nay ở nước ta là nỗi âu lo sâu
sắc của toàn xã hội, vì nó gắn liền với
mỗi gia đình và tương lai phát triển của
đất nước. Vấn đề này đã được
đề cập mọi lúc, mọi nơi và nhiều khi
gay gắt trong Hội thảo khoa học, trên mặt báo và
tại diễn đàn của Quốc Hội. Các nhà giáo, các nhà khoa học đã đề
xuất, kiến nghị các giải pháp đổi mới
nền giáo dục nước nhà, nhưng sự chuyển
biến rất chậm chạp và đôi khi còn tạo ra các
mâu thuẫn mới trong nội bộ hệ thống giáo
dục. Nguyên nhân của tình trạng này có thể phân
tích theo các quan điểm khác nhau. Do
đó, cho đến nay chúng ta vẫn chưa có quan
điểm thống nhất, các kiến nghị,
đề xuất giải pháp thường chưa
đủ tính đồng bộ và tính hệ thống.
Để thống nhất quan điểm
chỉ đạo đổi mới giáo dục
trước hết ta phải xuất phát từ chức
năng của Ngành GDĐT từ tính chất của các
bậc đào tạo và mục tiêu chiến lược
của ngành trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá và hội nhập quốc tế. Nói chung, giáo dục có 3
chức năng: chức năng xã hội, chức năng
kinh tế và chức năng văn hoá tư tưởng. Tuy nhiên các chức năng đó thể hiện
khác nhau ở các bậc học. Có
thể khẳng định rằng trong thời đại
ngày nay ở bậc Đại học - Cao đẳng
chức năng kinh tế trở thành chức năng chính,
giáo dục Đại học - Cao đẳng thuộc
lĩnh vực kinh tế dịch vụ. Xem xét ba
chức năng trên cho toàn bộ hệ thống GDĐT,
mục tiêu của giáo dục thể hiện bằng
phương châm chung là: nâng cao dân trí, phát
huy dân khí, đào tạo nhân lực, trọng dụng nhân
tài. Nhân tài không xuất hiện trong quá trình
đào tạo ở nhà trường, mà chỉ thể
hiện trong quá trình sử dụng đúng người có
trình độ kiến thức sâu rộng trong môi
trường tinh tế - xã hội thích hợp. Biết trọng dụng nhân tài, biết tạo
điều kiện để nhân tài phát huy tác dụng, thì
nhiều nhân tài sẽ xuất hiện và khi nhân tài xuất
hiện thì phải được tiến cử đúng
lúc, đúng chỗ.
Hiện nay, hầu như tất cả các
nước đều đề ra và thực hiện
chương trình cải cách giáo dục, đặc biệt
là đối với hệ thống Đại học. Tất nhiên, chúng ta cần
nghiên cứu kinh nghiệm của các nước. Nhưng ở mọi quốc gia, nền giáo
dục đều có lịch sử phát triển, truyền
thống và kinh nghiệm riêng. Do đó, trên thế
giới không thể tìm thấy hai quốc gia nào có hệ
thống giáo dục hoàn toàn đồng nhất. Chính vì thế mới có chuyện phải tiến
hành các thủ tục công nhận bằng cấp và học
vị của nhau, như chúng ta đều biết, mặc
dù xu thế hoà nhập về nội dung đào tạo và
cấu trúc Đại học đang được quan tâm
ở nhiều nước.
Nghiên cứu tình
hình cải cách, đổi mới giáo dục trên thế
giới chúng ta có thể nhận ra 2 kiểu cải cách:
Cải
cách diễn ra bên trong hệ thống giáo dục, còn bản
thân hệ thống đó vẫn không thay đổi.
Cải cách sâu sắc, toàn diện cả
hệ thống giáo dục được tác động
của các nhân tố bên ngoài hệ thống, bên ngoài khuôn
khổ của nước ta đã tiến hành một
cuộc cách mạng giáo đục như vậy sau khi thành
lập nước Việt
17 năm qua, ngành
giáo dục đã tiến hành nhiều biện pháp cải
cách, đổi mới về chương trình, tổ
chức hệ thống giáo dục và đa dạng hoá
nguồn đầu tư. Nhưng
tất cả những biện pháp đó chủ yếu
diễn ra trong hệ thống giáo dục hiện hữu,
nên hiệu quả kinh tế - xã hội thấp, thậm
chí đôi khi gây tác động tiêu cực lên xã hội,
hoặc sau cải cách chúng ta quay lại điểm
khởi đầu. Đã đến lúc
chúng ta phải tiến hành một cuộc cách mạng giáo
dục mới đối với toàn bộ hệ thống
giáo dục, mà trước hết là đối với
bậc giáo dục Đại học - Cao đẳng.
Nói khác đi, chúng ta phải tiến hành
cải cách giáo dục kiểu thứ hai đã nêu trên.
Đối
với nước ta các nhân tố khách quan bên ngoài hệ
thống giáo dục hiện hữu tác động vào
hệ thống giáo dục bao gồm: Sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hóa với mục tiêu
đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại. Do vậy, đòi hỏi
hệ thống giáo dục và đào tạo phải cung
cấp đủ nhân lực có trình độ cao chậm
nhất cũng trước năm 2010. Chính vì
thế cuộc cách mạng giáo dục mới phải
bắt đầu từ bậc Đại học - Cao
đẳng.
Nền
kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu và
rộng vào thị trường và nền kinh tế thế
giới.
Cơ
chế kinh tế đã thay đổi đòi hỏi
phải thay đổi cơ chế quản lý và tổ
chức hệ thống giáo dục, đặc biệt là
cơ chế quản lý bậc Đại học và Cao
đẳng, bậc học có mục tiêu
cung cấp lực lượng lao động có trình
độ cao cho thị trường nhân lực. Hệ quả đương nhiên là thị
trường nhân lực có trình độ cao đòi hỏi
phải hình thành thị trường Đại học -
Cao đẳng.
Các
trường Đại học và Cao đẳng phải
cạnh tranh để thu hút Sinh viên. Do
đó các trường phải có quyền tự chủ cao
trong việc tuyển sinh, thành lập và giải thể các
khoa, các bộ môn, tuyển Giáo sư, Giảng viên tuỳ theo nhu cầu của trường. Các
trường Đại học và Cao đẳng dần
dần không còn có chủ quản như hiện nay, mà
hoạt động theo luật giáo
dục mới và các quy định của pháp luật.
Sẽ có tác dụng rất lớn trong việc phân
luồng học sinh tốt nghiệp Trung học, nếu
chúng ta có thể đánh giá xếp hạng (accreditation) các
trường như nhiều nước đã làm
đặc biệt là ở Hoa Kỳ. Với một cơ
chế thích hợp, các Hội khoa học - kỹ thuật
quốc gia kết hợp với các Hội doanh nghiệp
và các hội nghề nghiệp khác hoàn toàn có thể đánh
giá khách quan và xếp hạng các trường Đại
học và Cao đẳng. Khi đó vai trò và
trách nhiệm xã hội của các hội nghề nghiệp
sẽ được nâng cao.
Xu hướng phát triển các hệ
thống Đại học - Cao đẳng trên thế
giới có tác động rất lớn đến quá trình
đổi mới hệ thống Đại học - Cao
đẳng ở nước ta. Các xu hướng dễ dàng nhận thấy
bao gồm: đào tạo đại trà, tuyển sinh dễ
dàng và sàng lọc chặt chẽ trong quá trình đào tạo
học suốt đời, thường xuyên bằng các
hình thức đào tạo khác nhau, đào tạo liên ngành,
kết hợp chức năng đào tạo với chức
năng nghiên cứu khoa học và chuyển giao tri thức
công nghệ.
Dưới đây
là một số đề xuất theo
cách nhìn hệ thống GDĐT trong hệ tổng thể
kinh tế - xã hội:
1) Tập trung
mọi nguồn lực tạo sự chuyển biến
đột phá cho bậc Đại học - Cao
đẳng. Khuyến khích các thành phần kinh
tế, các tổ chức và cá nhân thành lập nhiều
trường Đại học và Cao đẳng ở các
vùng kinh tế - văn hoá - xã hội. Có
các chính sách và giải pháp ưu đãi để huy
động mọi nguồn lực trong xã hội cho sự
phát triển về số lượng và chất
lượng bậc Đại học và Cao đẳng
với hai hình thức tổ chức công lập và tư
thục. Sẽ có người đặt câu hỏi:
Đội ngũ giảng dạy
đại học và cao đẳng hiện nay vừa
yếu lại vừa thiếu, thì làm sao bảo đảm
chất lượng đào tạo? Chúng ta có thể
đặt câu hỏi ngược lại: Đã có bao nhiêu
phần trăm đội ngũ khoa
bọc và công nghệ có trình độ cao được
tham gia đào tạo? Đó là chưa kể một lực
lượng khá đông đảo các nhà khoa học và
kỹ sư về hưu theo luật lao
động có thể tham gia đào tạo ở các
trường Đại học và Cao đẳng. Về mặt chất lượng đào tạo
chúng ta cũng cần có cách đánh giá mới. Chính người sử dụng nhân lực mới
đánh giá đúng chất lượng đào tạo
của nhà trường. Một tổ
chức chỉ bao gồm các giáo sư cũng không thể
làm điều đó. Nói khác đi,
thị trường nhân lực khoa học - công nghệ
sẽ điều chỉnh chất lượng đào
tạo, cũng như quy mô đào tạo. Vả
lại, để tồn tại và phát triển trong môi
trường cạnh tranh bản thân nhà trường
phải nâng cao chất lượng đào tạo
để thu hút Sinh viên và đứng
vững trên thị trường Đại học - Cao
đẳng.
2) Gắn đào
tạo với sử dụng lực lượng lao động được đào tạo.
Có chính sách tuyển chọn và sử dụng lao
động hợp lý dựa theo năng lực và hiệu
quả, thì vấn đề mâu thuẫn giữa đào
tạo và sử dụng, hiện tượng tiêu cực
trong bằng cấp hoặc kiếm bằng theo các cách phi
đạo đức sẽ được giải
quyết. Trong môi trường cạnh tranh lành mạnh,
lấy hiệu quả làm thước đo, không tổ
chức kinh tế, tổ chức quản lý, tổ
chức xã hội nào lại chỉ dựa vào mảnh
bằng để tuyển chọn, sắp xếp và
đề bạt cán bộ, nhân viên. Bằng
cấp chỉ có giá trị thông tin cho biết người
có bằng trải qua một quá trình đào tạo nhất
định. Do đó, cần phải xây dựng và
thực hiện chính sách sử dụng nhân lực
được đào tạo theo quan
điểm mới. Thực ra vài chục năm
trước đây chúng ta đã từng thực hiện
điều này!
3) Trong giai
đoạn cách mạng khoa học và công nghệ sôi
động như hiện nay, nhất là khi nền kinh
tế nhiều nước lần lượt phát triển
lên bậc thang kinh tế tri thức, một vấn
đề lớn được đặt ra đối
với hệ thống đào tạo Đại học và
Cao đẳng là đào tạo chuyên sâu (specialized training) hay
đào tạo rộng (gener- alized training). Ngày nay hiện
tượng: "đổi nghề" nhiều lần
trong đời làm việc đã trở nên phổ biến.
Ngoài ra, những vấn đề phải
giải quyết trong thực tiễn đều có tính liên
ngành. Do đó, hệ thống Đại học và Cao
đẳng nước ta nên chọn cách đào tạo
rộng là chủ yếu, thời gian đào tạo có
thể rút ngắn bớt. Nhà nước chỉ nên tập
trung phát triển một số trường, một số
khoa đào tạo chuyên sâu để tạo ra đội
ngũ có tài năng cung cấp cho hoạt động nghiên
cứu khoa học, phát triển văn hoá - nghệ
thuật, tạo ra và phát triển công nghệ mới.
4) Để
đổi mới bản thân hệ thang giáo dục -
đào tạo Đại học và Cao đẳng, nhiều
nhà giáo và nhà khoa học có tâm huyết đã đưa ra
nhiều giải pháp rất thiết thực và khá cụ
thể ở đây tôi chỉ đưa ra thêm một vài
kiến nghị:
Chỉ
tổ chức thi tuyển đối với một số
trường đào tạo chuyên sâu, trường năng
khiếu. Việc
tuyển sinh nên để cho các trường chủ
động thực hiện.
Việc xây
dựng chương trình và nội dung kiến thức
phải do một tập thể các nhà giáo, các nhà khoa
học và kỹ sư ở các viện nghiên cứu và trong
các doanh nghiệp thực hiện để gắn đào
tạo với nhu cầu thực tiễn. Ngay
từ 1956 - 1957 ở Hoa Kỳ, để xây dựng
chương trình vật lý cho trường trung học
người ta đã phải làm như vậy.
Chuẩn hoá, nâng
cao trình độ đội ngũ
giảng dạy Đại học và Cao đẳng nên
dựa theo các tiêu chuẩn phổ biến ở các
nước trong khu vực và phấn đấu theo tiêu
chuẩn ở các nước công nghiệp phát triển. Kiên quyết chống hiện tượng
chuẩn hóa hình thức dựa vào bằng cấp đang có
"xu hướng lạm phát" hiện nay. Chỉ
các nhà giáo, các nhà khoa học trực tiếp tham gia giảng
dạy và đào tạo mới được sử
dụng chức danh "Giáo sư", "Phó Giáo sư”
trong hoạt động giáo dục và hoạt động
xã hội. Hội đồng chức danh khoa
học (có lẽ phải có tên gọi khác!) không trực
tiếp công nhận, mà chỉ làm nhiệm vụ đánh giá
có đủ tư cách hay không (habilitation) để các
trường tuyển chọn. Bằng
cách đó chúng ta có thể phân bố hợp lý Giáo sư, Phó
Giáo sư giữa các trường, giữa các vùng.
Một
việc tưởng chừng không quan trọng, nhưng
rất cần thống nhất đó là danh xưng học
vị và chức danh. Tên
gọi học vị "Thạc sĩ" là không đúng,
vì theo nghĩa Hán - Việt Thạc sĩ
là người có học vấn uyên thâm, có đạo
đức cao và có thể hiểu là "bác học" theo
cách tôn xưng trong xã hội. Tôi thấy nên chọn danh
xưng "Học sĩ", vì người có bằng
master thực chất chỉ mới học nghiên cứu.
Tên gọi chức danh "Phó giáo sư" cũng bất
hợp lý, vì ai cũng biết Phó Giáo sư không phải là
người giúp cho Giáo sư, như chức phó trong cơ
quan quản lý. Tôi đề nghị nên
chọn danh xưng "giảng sư”, vì chính các associate
profes - sor mới là người giảng dạy các giáo trình
chính ở các trường Đại học đã
được chuẩn hoá.
Lê Minh Triết
Nguồn: Tạp chí Khoa học & Tổ
quốc