BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc
lập - Tự do - Hạnh phúc
QUY ĐỊNH
ĐÁNH GIÁ NGHIỆM THU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ CẤP NHÀ NƯỚC
(Kèm theo Quyết định
số 13/2004/QĐ-BKHCN ngày 25/5/2004
của Bộ trưởng
Bộ Khoa học và Công nghệ)
CHƯƠNG I. NHỮNG QUY ĐỊNH
CHUNG
Điều 1.
Khái niệm đánh giá nghiệm thu Đề tài khoa học và công
nghệ
Đánh giá
nghiệm thu Đề tài khoa học và công nghệ (dưới đây
gọi là đánh giá kết quả Đề tài) là quá trình
thẩm định, nhận định các kết quả nghiên
cứu của Đề tài so với toàn bộ nội dung
của Hợp đồng khoa học và công nghệ hoặc Văn
bản giao nhiệm vụ và các tài liệu pháp lý liên
quan khác (dưới đây gọi chung là Hợp đồng) khi
kết thúc Hợp đồng.
Điều 2.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Các Đề tài
khoa học và công nghệ có sử dụng Ngân sách Nhà
nước trong các Chương trình khoa học và công nghệ
cấp Nhà nước, các Đề tài độc lập cấp Nhà
nước (dưới đây gọi tắt là Đề tài) và các công
trình khoa học cấp Nhà nước khác trừ các
Đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên
và các Đề tài khoa học xã hội và nhân văn.
Điều 3.
Nguyên tắc đánh giá kết quả Đề tài
Việc đánh
giá kết quả Đề tài được tiến hành theo 2
bước: đánh giá kết quả Đề tài ở cấp cơ
sở và đánh giá kết quả Đề tài ở cấp Nhà
nước. Mỗi bước đánh giá được tổ chức
thực hiện riêng biệt.
1. Đánh giá
kết quả Đề tài ở cấp cơ sở (dưới
đây gọi tắt là đánh giá cơ sở)
Việc đánh
giá cơ sở được tiến hành ở Cơ quan chủ trì
Đề tài thông qua một Hội đồng khoa học và công
nghệ do Thủ trưởng Cơ quan chủ trì Đề tài
thành lập (dưới đây gọi là Hội đồng đánh giá cơ
sở) và phải được hoàn thành trong thời hạn 60
ngày kể từ khi kết thúc Hợp đồng.
Hội
đồng đánh giá cơ sở có trách nhiệm tư vấn cho Thủ
trưởng Cơ quan chủ trì Đề tài nhận định
về kết quả nghiên cứu của Đề tài đã
được thực hiện so với Hợp đồng và
quyết định chuyển Hồ sơ đánh giá kết quả
Đề tài đến Bộ KH&CN để đánh giá ở cấp
Nhà nước.
Hội
đồng đánh giá cơ sở kết luận đánh giá kết
quả Đề tài theo hai mức: "Đạt" hoặc
"Không đạt".
2. Đánh giá
kết quả Đề tài ở cấp Nhà nước (dưới
đây gọi tắt là đánh giá cấp Nhà nước)
Việc đánh
giá cấp Nhà nước được thực hiện bằng
một Hội đồng KH&CN do Bộ Khoa học và Công
nghệ thành lập và phải được hoàn thành trong thời
gian 60 ngày kể từ ngày nhận được Hồ sơ đánh giá
cấp Nhà nước hợp lệ.
Bộ
Khoa học và Công nghệ chỉ thành lập Hội
đồng đánh giá cấp Nhà nước đối với các Đề
tài được Hội đồng cơ sở đánh giá ở mức
"Đạt". Những Đề tài được Hội đồng
cơ sở đánh giá "Không đạt", sẽ được Bộ
KH&CN tổ chức xem xét, xử lý.
Hội
đồng đánh giá cấp Nhà nước căn cứ vào Hồ sơ đánh
giá kết quả Đề tài, trong đó có kết luận
của Hội đồng đánh giá cơ sở và Bản nhận xét
về kết quả thực hiện Đề tài của Ban
chủ nhiệm Chương trình KH&CN (đối với các
Đề tài thuộc các Chương trình KH&CN) và Báo cáo
thẩm định của Tổ chuyên gia (nếu có) để
đánh giá toàn diện các kết quả nghiên cứu của
Đề tài.
Đối
với các Đề tài có kết quả nghiên cứu là sản
phẩm có các thông số kỹ thuật đo kiểm được
(kể cả phần mềm máy tính) - dưới đây gọi là
Đề tài có các kết quả đo kiểm được, thì
tính xác thực của các thông số kỹ thuật và tài
liệu công nghệ của Đề tài phải được
một Tổ chuyên gia thẩm định trước khi Hội
đồng cấp Nhà nước họp đánh giá.
Điều 4.
Nguyên tắc làm việc của Hội đồng đánh giá sơ
sở và Hội đồng đánh giá cấp Nhà nước
1.
Chủ nhiệm Đề tài và các cá nhân có tên trong danh sách tác
giả thực hiện Đề tài không được tham gia Tổ
chuyên gia và các Hội đồng đánh giá kết quả Đề
tài của mình.
2.
Phiên họp của Hội đồng phải có ít nhất 2/3
số thành viên có mặt. Trong trường hợp thành lập
Tổ chuyên gia, các thành viên Tổ chuyên gia mà không phải là
thành viên Hội đồng có quyền tham gia tất cả các
phiên họp của Hội đồng đánh giá kết quả
Đề tài cấp Nhà nước, nhưng không bỏ phiếu đánh
giá.
3.
Chủ tịch Hội đồng chủ trì các phiên
họp và chỉ đạo các công việc của Hội
đồng. Trong trường hợp Chủ tịch Hội
đồng vắng mặt, Phó Chủ tịch Hội đồng
sẽ thay Chủ tịch Hội đồng thực hiện
những phần việc này.
Điều 5.
Về các chi phí phát sinh
1.
Mọi chi phí phát sinh để hoàn thiện các sản phẩm
và tài liệu của Đề tài theo yêu cầu của Hội
đồng đánh giá cơ sở do thực hiện chưa đúng với
nội dung, và yêu cầu đã ghi trong Hợp đồng do
Chủ nhiệm và Cơ quan chủ trì Đề tài tự
trang trải, ngân sách Nhà nước không cấp bổ sung.
2.
Những chi phí để kiểm định, đo đạc lại các
thông số kỹ thuật và những chi phát sinh liên quan
đến đánh giá của Hội đồng đánh giá cấp Nhà
nước và Tổ chuyên gia được lấy từ Ngân sách
sự nghiệp khoa học hàng năm của Bộ KH&CN.
CHƯƠNG II. ĐÁNH GIÁ CƠ SỞ
Điều 6.
Hồ sơ đánh giá cơ sở
1.
Chậm nhất là đến thời điểm kết thúc
Hợp đồng, Chủ nhiệm Đề tài có trách nhiệm
nộp ba (03) bộ Hồ sơ đánh giá cơ sở cho Cơ quan
chủ trì Đề tài, trong đó có ít nhất một (01) bộ
gốc.
2.
Bộ Hồ sơ đánh giá cơ sở gồm:
a) Hợp đồng;
b) Những tài liệu và sản phẩm
KH&CN của Đề tài với số lượng và yêu
cầu như đã nêu trong Hợp đồng;
c) Bản vẽ thiết kế (đối
với sản phẩm là thiết bị), các số
liệu điều tra - khảo sát gốc, sổ nhật
ký hoặc sổ số liệu gốc của Đề
tài;
d) Bản tự đánh giá về tình
hình thực hiện và về những đóng góp mới
của Đề tài - về những nội dung KH&CN chưa
được công bố trên các ấn phẩm trong và ngoài nước
đến thời điểm kết thúc Đề tài (Biểu
D1-1-ĐGMOI).
đ) Các Biên bản kiểm tra định kỳ
của Bộ KH&CN hoặc Ban chủ nhiệm Chương
trình KH&CN;
e) Báo cáo về kết quả thử
nghiệm hoặc ứng dụng các sản phẩm KH&CN
của Đề tài (thiết bị, công nghệ, quy trình
công nghệ, ...), ý kiến nhận xét của người
sử dụng và/hoặc các tài liệu về đo đạc,
kiểm tra, đánh giá thử nghiệm các sản phẩm
KH&CN của Đề tài của các Cơ quan đo lường thử
nghiệm có thẩm quyền (của các Phòng thí
nghiệm chuyên ngành, các Trung tâm kỹ thuật, Trung tâm đo
lường, Cơ quan giám định kỹ thuật, ...);
f) Bản nhận xét về kết quả
thực hiện Đề tài của Ban Chủ nhiệm Chương
trình tương ứng đối với các Đề tài thuộc
các Chương trình KH&CN (Biểu D1-2-BCNCT-NX);
g) Báo cáo đề nghị quyết toán tài chính
của Đề tài.
Điều 7.
Kiểm tra Hồ sơ đánh giá cơ sở
Cơ quan
chủ trì Đề tài có trách nhiệm kiểm tra Hồ
sơ đánh giá cơ sở, nếu thấy không đủ số
liệu và/hoặc thiếu các tài liệu liên quan cần
thiết thì phải yêu cầu và tạo điều
kiện để Chủ nhiệm Đề tài thực
hiện bổ sung việc kiểm tra, đo đạc các thông
số kỹ thuật của các sản phẩm KH&CN
của Đề tài trong phòng thí nghiệm và/hoặc
tại các cơ quan đo lường thử nghiệm có thẩm
quyền.
Điều 8.
Hội đồng đánh giá cơ sở
1.
Hội đồng đánh giá cơ sở gồm 7 đến 9 thành viên có
uy tín trong và ngoài Cơ quan, là các cán bộ khoa học và công
nghệ, kinh tế, có chuyên môn phù hợp với lĩnh
vực nghiên cứu của Đề tài; Hội đồng đánh
giá cơ sở cử ít nhất hai thành viên làm phản biện.
2.
Phương thức và quy trình làm việc của Hội
đồng đánh giá cơ sở được quy định tại Phụ
lục 1 kèm theo Quy định này.
Điều 9.
Đánh giá cơ sở
1. Căn
cứ vào Hồ sơ đánh giá cơ sở, Hội đồng đánh giá cơ
sở đánh giá kết quả Đề tài và viết Phiếu
nhận xét đánh giá cơ sở về kết quả Đề tài
theo các nội dung sau:
a) Mức
độ hoàn thành khối lượng công việc và các chỉ
tiêu theo yêu cầu của Hợp đồng;
b) Mức độ hoàn chỉnh của các tài
liệu công nghệ;
c) Những vấn đề tồn tại và
đề xuất hướng hoặc biện pháp giải
quyết.
2.
Hội đồng đánh giá cơ sở xếp loại Đề tài
theo 2 mức sau: "Đạt" hoặc "Không
đạt".
Đề
tài được đánh giá ở mức "Đạt" là
Đề tài được ít nhất 2/3 số thành viên Hội
đồng có mặt nhất trí đã hoàn thành được
khối lượng công việc cơ bản với chất
lượng các chỉ tiêu công nghệ hoặc chỉ tiêu kinh
tế - kỹ thuật chủ yếu đạt yêu cầu
đã nêu trong Hợp đồng và không vi phạm một trong
các điểm b, c, d, đ và e khoản này.
Đề
tài được đánh giá ở mức "Không đạt",
nếu vi phạm một trong những trường hợp sau
đây:
a) Chưa đạt hoặc không đạt được
khối lượng công việc cơ bản và các chỉ tiêu
chủ yếu so với Hợp đồng;
b) Kết quả KH&CN không thể lặp
lại được, không có giá trị khoa học hoặc không có
giá trị sử dụng;
c) Hồ sơ, tài liệu, số liệu cung
cấp không trung thực;
d) Vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc
quản lý tài chính đối với kinh phí của đề
tài (có kết luận bằng văn bản của các đoàn thanh
tra, kiểm tra có thẩm quyền);
đ) Tự ý sửa đổi mục tiêu,
nội dung và thay đổi thiết kế, kế hoạch
thực hiện;
e) Nộp Hồ sơ đánh giá chậm so với
thời hạn kết thúc Hợp đồng từ 6 tháng
trở lên mà không có ý kiến chấp thuận của
Bộ Khoa học và Công nghệ.
3.
Đối với những Đề tài có các đề tài nhánh
độc lập với nhau, có thể đánh giá từng Đề
tài nhánh trước khi đánh giá chung cả Đề tài. Việc đánh
giá Đề tài nhánh cũng theo những nội dung đã
được quy định tại các khoản 1 và khoản 2
Điều này.
Điều 10.
Xử lý kết quả đánh giá cơ sở
1. Trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày có kết luận
của Hội đồng đánh giá cơ sở, Cơ quan chủ
trì và Chủ nhiệm Đề tài phải gửi
mười ba (13) bộ Hồ sơ - riêng đối với
loại tài liệu là bản vẽ thiết kế (đối
với sản phẩm là thiết bị), số liệu
điều tra khảo sát gốc, sổ nhật ký hoặc
sổ số liệu gốc của Đề tài và Báo cáo
tổng kết khoa học và kỹ thuật (Báo cáo tổng
kết nghiệm thu) của Đề tài chỉ cần nộp
3 bản, đối với các Đề tài được đánh giá
ở mức :"Đạt" và ba (03) bộ Hồ sơ
đối với các Đề tài được đánh giá ở mức
"Không đạt", trong đó có ít nhất 1 bản gốc,
đến Bộ Khoa học và Công nghệ. Đối với các
Đề tài thuộc các Chương trình KH&CN cấp Nhà
nước, Hồ sơ đánh giá phải được Ban chủ
nhiệm Chương trình tương ứng nhất trí thông qua,
trước khi gửi Bộ Khoa học và Công nghệ.
2.
Đối với những Đề tài được Hội đồng
đánh giá cấp cơ sở đánh giá ở mức "Không
đạt" do vi phạm điểm a hoặc b khoản 2
Điều 9 của Quy định này, thời gian thực
hiện Đề tài có thể được gia hạn tối đa thêm
6 tháng, nếu Cơ quan chủ trì đề nghị bằng
văn bản kèm theo Hồ sơ đánh giá cơ sở và Biên bản
Hội đồng đánh giá cơ sở cho Bộ Khoa học và Công
nghệ (và Ban chủ nhiệm Chương trình KH&CN -
nếu có).
Trong
thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được
đề nghị, Bộ Khoa học và Công nghệ, sau khi tham
khảo ý kiến của Ban chủ nhiệm Chương
trình KH&CN (nếu có), phải thông báo về việc
có chấp thuận gia hạn hay không. Sau thời gian
được gia hạn, Hội đồng đánh giá cơ sở sẽ
tổ chức đánh giá lại. Việc đánh giá lại
phải được thực hiện trong thời hạn 30 ngày
kể từ ngày nhận được Hồ sơ đánh giá lại cơ
sở hợp lệ và theo những nội dung và trình
tự đã nêu tại Điều 9 của Quy định này.
3.
Đối với các Đề tài được đánh giá "Không đạt"
liệt kê dưới đây, Hội đồng đánh giá cơ sở có
trách nhiệm xem xét, xác định những nội dung công
việc đã thực hiện đúng Hợp đồng làm căn
cứ để Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét công
nhận số kinh phí được quyết toán của Đề
tài:
a)
Đề tài được đánh giá "Không đạt" do vi phạm
một trong các điểm c, d, đ, c và e khoản 2 Điều 9
của Quy định này;
b)
Đề tài không được chấp thuận gia hạn theo quy
định tại khoản 2 Điều này;
c)
Đề tài đã được đánh giá lại theo những quy
định tại khoản 2 Điều này ở mức "Không
đạt".
CHƯƠNG III. ĐÁNH GIÁ CẤP NHÀ NƯỚC
Điều 11.
Hồ sơ đánh giá cấp Nhà nước (dưới đây gọi là
Hồ sơ đánh giá)
1.
Hồ sơ đánh giá gồm:
a) Công văn đề nghị đánh giá cấp Nhà
nước của Cơ quan chủ trì và Chủ nhiệm
Đề tài theo Biểu D2-2-ĐONĐG;
b) Hồ sơ đánh giá cơ sở đã được
hoàn thiện theo yêu cầu của Hội đồng đánh giá cơ
sở;
c) Quyết định thành lập Hội
đồng và Biên bản đánh giá cơ sở;
d) Văn bản xác nhận về sự
thoả thuận của các tác giả về việc
sắp xếp thứ tự tên trong Danh sách tác giả
thực hiện Đề tài (Biểu D2-3-DSTG) - đối với
các Đề tài được đánh giá ở mức "Đạt".
2. Bộ
KH&CN kiểm tra tính hợp lệ của
Hồ sơ đánh giá và yêu cầu Chủ nhiệm Đề tài và Cơ
quan chủ trì Đề tài bổ sung hoàn chỉnh Hồ
sơ đánh giá khi thấy cần thiết. Ngày ghi trên giấy biên
nhận Hồ sơ đánh giá kết quả Đề tài cấp Nhà
nước (biểu D2-1-BNHS-NN) là ngày tính thời điểm
nộp Hồ sơ hợp lệ.
Điều 12. Hội
đồng đánh giá cấp Nhà nước (dưới đây gọi là
Hội đồng)
1. Hội
đồng có từ 9 đến 11 thành viên, gồm Chủ
tịch, Phó Chủ tịch, có ít nhất 2 thành viên phản
biện và các thành viên khác.
Đối
với các Đề tài có các kết quả đo kiểm được,
Bộ KH&CN thành lập Tổ chuyên gia đánh giá. Tổ
chuyên gia có 3-5 thành viên, gồm các uỷ viên phản biện
của Hội đồng và các chuyên gia ngoài Hội đồng do
Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng
làm Tổ trưởng.
Thành
viên Hội đồng gồm:
+ Ít nhất 1/3 đại diện cho các cơ quan quản lý
Nhà nước và đại diện tổ chức sản xuất
- kinh doanh sử dụng kết quả KH&CN, các tổ
chức khác có liên quan;
+ Khoảng 2/3 là các cán bộ KH&CN hoạt động trong
lĩnh vực KH&CN được giao đánh giá.
Thành
viên của Tổ chuyên gia và Hội đồng phải là các
chuyên gia có uy tín, khách quan, có trình độ chuyên môn phù
hợp và am hiểu sâu lĩnh vực KH&CN được giao tư
vấn đánh giá. Đối với các Đề tài thuộc các Chương
trình KH&CN cấp Nhà nước, một (01) đại
diện Ban Chủ nhiệm Chương trình là thành viên đương
nhiên của Hội đồng.
Những
chuyên gia đã tham gia Hội đồng tuyển chọn
hoặc Hội đồng xét duyệt thuyết minh Đề tài
được ưu tiên xem xét mời tham gia Hội đồng.
2.
Bộ Khoa học và Công nghệ cử các chuyên viên làm Thư
ký giúp việc Hội đồng.
3.
Phương thức và quy trình làm việc của Hội
đồng được quy định tại Phụ lục 2 kèm
theo Quy định này.
Điều 13. Phiên họp
trù bị của Hội đồng và Tổ chuyên gia (nếu
có)
Trên
cơ sở xem xét Hồ sơ đánh giá và các tài liệu liên quan khác,
Hội đồng và Tổ chuyên gia (nếu có) trao đổi
để thống nhất về:
a) Phương thức làm việc của Hội
đồng và Tổ chuyên gia;
b) Kiến nghị Bộ KH&CN tổ
chức để Tổ chuyên gia hoặc một số thành
viên Hội đồng xem xét, khảo sát tại hiện
trường phục vụ cho việc đánh giá kết qủa
Đề tài, nếu thấy cần thiết.
c) Kiến nghị một số thông số
kỹ thuật cần đo đạc kiểm định lại
đối với Đề tài có các kết qủa đo kiểm
được, nếu thấy cần thiết, đồng thời
đề xuất để Bộ KH&CN mời Cơ quan đo
lường thử nghiệm có thẩm quyền thực
hiện.
d) Bố trí lịch làm việc của
Tổ chuyên gia và Hội đồng.
Điều 14. Công tác
thẩm định của Tổ chuyên gia
1. Tổ chuyên
gia có trách nhiệm kiểm tra, thẩm định độ tin
cậy của toàn bộ tài liệu, mẫu hiện
vật, các sản phẩm của đề tài: nhận
định về tính xác thực của các thông số kỹ
thuật và tài liệu công nghệ thông qua việc kiểm
tra sổ nhật ký Đề tài, các phương pháp nghiên cứu,
phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp tính toán và kỹ
thuật đã sử dụng, các quy trình nghiên
cứu, thí nghiệm, tính đại diện của các mẫu
thí nghiệm, ... trên cơ sở Hồ sơ đánh giá, khảo sát
hiện trường (nếu có), đối chiếu với yêu
cầu của Hợp đồng và lập Báo cáo thẩm
định (Biểu D2-4-BCTĐ).
2. Báo
cáo thẩm định gồm những nội dung chủ
yếu sau:
a) Mức độ hoàn thành khối lượng cơ
bản so với Hợp đồng;
b) Mức độ hoàn thành và tính xác thực
của các chỉ tiêu cơ bản của các sản phẩm
của Đề tài so với yêu cầu đã ghi trong Hợp
đồng;
c) Mức độ hoàn chỉnh và độ tin
cậy của tài liệu công nghệ của Đề tài.
Điều 15. Thành viên
Hội đồng nghiên cứu Hồ sơ, tài liệu và viết
nhận xét đánh giá
Các
thành viên của Hội đồng tiến hành xem xét, nghiên
cứu toàn bộ Hồ sơ đánh giá và các tài liệu, văn
bản liên quan, trong đó có Báo cáo thẩm định của
Tổ chuyên gia (nếu có) và viết Phiếu nhận xét
đánh giá kết quả KH&CN của Đề tài (Biểu
D2-5-PNXĐT-NN).
Điều 16. Đánh giá của
Hội đồng
1. Trên cơ sở
xem xét, nghiên cứu toàn bộ Hồ sơ đánh giá và các tài
liệu, văn bản liên quan và Báo cáo thẩm định của
Tổ chuyên gia (nếu có) và các Phiếu nhận xét đánh giá
kết quả Đề tài của các uỷ viên phản
biện, trao đổi thảo luận, nhận định,
chấm điểm (biểu D2-6-PĐGĐT-NN) để xếp loại
Đề tài theo 4 nhóm tiêu chuẩn với thang điểm 40
điểm được quy định như sau:
2.
Các tiêu chuẩn đánh giá:
a) Mức độ hoàn thành khối lượng cơ
bản kết quả nghiên cứu của Đề tài so
với yêu cầu của Hợp đồng, bao gồm:
-
Mức độ hoàn thành khối lượng công việc cơ
bản
Tính đầy
đủ về số lượng, về chủng loại,
về khối lượng của các sản phẩm đã
hoàn thành so với Hợp đồng.
-
Về phương pháp nghiên cứu, báo cáo khoa học, tài liệu
công nghệ
+ Về các
phương pháp nghiên cứu, phương pháp điều tra khảo sát, phương
pháp tính toán và kỹ thuật đã sử dụng; tính xác
thực của việc thực hiện các quy trình
nghiên cứu, thí nghiệm, tính đại diện của các
mẫu thí nghiệm, các số liệu điều tra khảo
sát,...
+ Về
mức độ hoàn chỉnh của báo cáo khoa học, của
báo cáo tóm tắt, của bản vẽ thiết kế,
của tài liệu công nghệ, ...
b) Giá trị khoa học của các kết
quả nghiên cứu của Đề tài
- Về tính
mới, tính sáng tạo của kết quả nghiên cứu
đã tạo ra;
- Về
tình hình công bố kết quả nghiên cứu
của Đề tài (bài báo, ấn phẩm, ...) ở các
tạp chí có uy tín trong, ngoài nước và mức độ trích
dẫn;.....
- Về
những thành tựu nổi bật khác liên quan trực
tiếp đến kết quả nghiên cứu của Đề
tài, thể hiện bằng những đóng góp cụ
thể:
+ Vị thế của nhà khoa học (những cá nhân tham gia
đề tài) trong giới khoa học quốc tế, những
công việc tư vấn được mời tham gia;
+ Có giá trị khoa học xuất sắc trong nước và so
sánh được với những kết quả nghiên cứu
tương tự trình độ quốc tế: đóng góp vào các
thành tựu khoa học trình độ quốc tế, ...
c) Giá trị ứng dụng, mức độ
hoàn thiện của công nghệ và triển vọng áp
dụng kết quả KH&CN.
- Chỉ tiêu
kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của sản
phẩm nghiên cứu tương đương hoặc cao hơn chỉ tiêu
của các sản phẩm tương tự khác (có địa chỉ
trích dẫn cụ thể); Quy mô áp dụng kết quả
nghiên cứu đã chứng minh được hiệu quả
kinh tế và triển vọng áp dụng;
- Tình
hình được cấp Bằng sáng chế hoặc
giải pháp hữu ích;
- Về
hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh tế -
xã hội
Sản
phẩm đã được đưa vào sản xuất quy mô công
nghiệp hoặc đã chuyển giao công nghệ bằng
các hợp đồng kinh tế quy mô lớn; Các cơ sở
dữ liệu, cơ sở khoa học phục vụ quy
hoạch, mô hình, ... đã được sử dụng trong
việc hoạch định các kế hoạch, quy hoạch,
đề án phát triển kinh tế - xã hội các cấp
có ý nghĩa thực tiễn cao, ...
d) Đánh giá về tổ chức và quản
lý, kết quả đào tạo và những đóng góp khác
của Đề tài.
- Về
tổ chức và quản lý Đề tài;
- Về
kết quả đào tạo và những đóng góp khác của
Đề tài.
3. Hội
đồng bỏ phiếu chấm điểm
Những
phiếu hợp lệ là những phiếu cho điểm
bằng hoặc thấp hơn điểm tối đa đã ghi trên
phiếu tương ứng cho từng chỉ tiêu đánh giá. Mức
đánh giá chung của Đề tài được tính bằng điểm
trung bình của các thành viên Hội đồng.
Ban
kiểm phiếu báo cáo Hội đồng kết quả
kiểm phiếu theo Biểu D2-7- KPĐGĐT-NN.
Hội đồng xếp loại Đề tài vào
một trong 2 mức sau: Đạt hoặc Không đạt.
a) Đề tài được đánh giá
ở mức "Đạt" là những Đề tài
đạt tổng số điểm từ 20 điểm trở lên
và không vi phạm một trong các điểm b, c, d, đ hoặc e
khoản 2 Điều 9 Quy định này. Mức đạt được
chia ra các mức A, B, C tương ứng với số điểm
từ cao xuống thấp.
b) Đề tài sau đây được đánh
giá ở mức "Không đạt":
o Có tổng số điểm dưới 20 điểm, hoặc: Vi phạm một trong các điểm b, c, d, đ và e khoản 2 Điều 9 Quy định này.
Hội
đồng lập Biên bản đánh giá gửi Bộ Khoa học
và Công nghệ theo mẫu quy định (Biểu D2-8-BBĐGĐT-NN).
Điều 17. Xử lý
và báo cáo kết quả đánh giá
1. Những Đề tài đã được Hội
đồng đánh giá ở mức "Không đạt" do có
tổng số điểm dưới 20 điểm như quy định
tại điểm b khoản 3 Điều 16 của Quy định
này, nếu chưa được gia hạn thêm thời gian tại
bước đánh giá cơ sở, sẽ có thời hạn tối đa
6 tháng kể từ khi có kết luận của Hội
đồng cho việc hoàn thiện các sản phẩm và tài
liệu của Đề tài để đánh giá lại.
Sau thời hạn nêu trên, việc
đánh giá lại được thực hiện trong thời hạn
30 ngày kể từ ngày nhận được Hồ sơ đánh giá
lại cấp Nhà nước hợp lệ và theo những tiêu
chuẩn và trình tự đã nêu tại Điều 13, 14,
15 và 16 của Quy định này.
2. Đối
với các Đề tài được các Hội đồng tổ
chức đánh giá lại thì mức đánh giá xếp
loại cao nhất là mức "Đạt" loại C,
trừ trường hợp đặc biệt.
3.
Đối với các trường hợp Đề tài đã
được đánh giá ở mức "Không đạt", Hội
đồng có trách nhiệm xem xét xác định những nội
dung công việc đã thực hiện đúng Hợp đồng
làm căn cứ để Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét
công nhận số kinh phí được quyết toán của
Đề tài.
4. Trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Biên
bản làm việc của Hội đồng, Chủ nhiệm
Đề tài và Cơ quan chủ trì có trách nhiệm bổ
sung, hoàn chỉnh Hồ sơ đánh giá theo kiến nghị
của Hội đồng và gửi Bộ Khoa học và Công
nghệ.
CHƯƠNG IV. GHI NHẬN KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ
Điều 18. Ghi nhận
kết quả đánh giá và nộp báo cáo kết quả nghiên
cứu
Đối
với các Đề tài được đánh giá ở mức Đạt,
trong vòng 20 ngày kể từ khi nhận được Hồ
sơ Đề tài hoàn thiện, Bộ Khoa học và Công nghệ có
trách nhiệm hoàn thành việc xem xét và ghi nhận kết
quả đánh giá (Biểu D3-1-GNKQĐG-NN). Trường hợp phát
hiện kết luận tại Biên bản đánh giá của
Hội đồng không phù hợp với Quy định này
thì Bộ Khoa học và Công nghệ có thể yêu
cầu các Hội đồng đánh giá, Tổ chuyên gia và/hoặc
Cơ quan đo lường thử nghiệm bổ sung, sửa
đổi.
Trong
các trường hợp kết quả của Đề tài đã
được Hội đồng đánh giá cơ sở đánh giá hoặc đánh
giá lại và được kết luận ở mức "Không
đạt", hoặc không được chấp thuận gia
hạn như đã nêu tại khoản 3 Điều 10 của Quy
định này, Bộ Khoa học và Công nghệ căn cứ
kết luận của Hội đồng đánh giá cơ sở
để xem xét, ghi nhận kết quả đánh giá.
Các
văn bản, tài liệu, Hồ sơ đánh giá kết quả
Đề tài được Bộ Khoa học và Công nghệ và Cơ quan
chủ trì Đề tài phân loại, lưu trữ, bảo
quản; Cơ quan chủ trì Đề tài và chủ nhiệm
Đề tài có trách nhiệm nộp báo cáo kết quả nghiên
cứu cho Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia theo quy định
hiện hành.
Điều 19. Quyết toán
và thanh lý Hợp đồng
Đề
tài được thực hiện việc quyết toán và thanh
lý Hợp đồng sau khi việc đánh giá kết quả
Đề tài đã được ghi nhận và báo cáo kết quả
nghiên cứu đã giao nộp cho Trung tâm Thông tin KH&CN
Quốc gia, đồng thời, các sản phẩm của
Đề tài và tài sản đã mua sắm bằng kinh phí
thực hiện Đề tài đã được kiểm kê và bàn
giao theo các quy định hiện hành.
Quy
trình tổng thể các bước công việc đánh giá
nghiệm thu Đề tài KH&CN cấp Nhà nước được
trình bày trong Phụ lục 3 của Quy định
này.
CHƯƠNG V. TRÁCH NHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH ĐÁNH GIÁ
Điều 20. Trách nhiệm
của Cơ quan chủ trì và Chủ nhiệm Đề tài
1. Cơ
quan chủ trì và Chủ nhiệm Đề tài có trách
nhiệm tạo điều kiện thuận lợi, cung
cấp tài liệu và trả lời những vấn đề
cần thiết liên quan đến kết quả nghiên cứu
để Hội đồng đánh giá hoàn thành nhiệm vụ và
chịu trách nhiệm về tính chính xác của tài liệu
đã cung cấp.
2.
Trong quá trình thực hiện đề tài, nếu có hành vi
vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công
nghệ thì sẽ bị xử lý theo quy định
về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt
động khoa học và công nghệ.
3.
Trường hợp Cơ quan chủ trì và Chủ nhiệm
Đề tài vi phạm các điểm c và d khoản 2 Điều 9
của Quy định này được phát hiện sau khi đã hoàn
thành việc đánh giá kết quả Đề tài, thì
những kết luận đánh giá ở mức Đạt bị
huỷ bỏ và được xếp loại và xử lý
theo mức "Không đạt".
Điều 21.Trách nhiệm
của Hội đồng đánh giá và của cá nhân tham gia đánh giá
1.
Các thành viên Hội đồng, các chuyên gia, các công chức
của cơ quan quản lý khác và của Bộ Khoa
học và Công nghệ (dưới đây gọi là các cá nhân tham gia
đánh giá) có trách nhiệm thực hiện việc đánh giá trung
thực, khách quan, chính xác, đảm bảo nguyên tắc dân
chủ và phải chịu trách nhiệm về các ý
kiến tư vấn và các hành vi của mình trong quá
trình tham gia đánh giá.
2.
Các cá nhân tham gia đánh giá không được công bố, cung cấp
thông tin về kết quả nghiên cứu của Đề tài,
sử dụng, chuyển nhượng cho người khác kết
quả nghiên cứu của đề tài mà mình biết,
khi chưa được sự đồng ý của Bộ Khoa
học và Công nghệ, Cơ quan chủ trì và chủ
nhiệm đề tài.
3.
Các thành viên Hội đồng đánh giá vi phạm các nội dung
quy định trên thì bị xử phạt vi phạm hành
chính theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong hoạt động khoa học và công nghệ và không
được tiếp tục tham gia việc đánh giá các đề tài
khác có kinh phí từ ngân sách nhà nước trong 3 năm.
4.
Các công chức của cơ quan chủ trì đề tài và cơ
quan quản lý khoa học và công nghệ vi phạm các
quy định ở khoản 2 và 3 của Điều này sẽ
bị xử lý kỷ luật theo quy định của
Pháp lệnh Cán bộ, công chức.
Điều 22. Trách nhiệm
của Bộ Khoa học và Công nghệ
Bộ
Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm tổ chức đánh
giá Đề tài cấp Nhà nước theo đúng Quy định này và
kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định
trong quá trình tổ chức, đánh giá, nghiệm thu và
xử lý các công chức của Bộ vi phạm quy
định trong quá trình tổ chức đánh giá.
Điều 23. Khiếu
nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại,
tố cáo
1.
Tổ chức, cá nhân thực hiện đề tài được đánh
giá và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan có quyền
khiếu nại các quyết định hành chính; cá nhân có
quyền tố cáo các hành vi hành chính của các công chức,
cơ quan chủ trì đề tài và Bộ Khoa học và Công
nghệ trong quá trình tổ chức đánh giá Đề tài.
2.
Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
được thực hiện theo quy định của pháp luật
về khiếu nại, tố cáo.
CHƯƠNG VI. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 24. Điều
khoản thi hành
1.
Đối với các Đề tài đã được đánh giá cơ sở
theo Quy định về thể thức đánh giá và nghiệm thu
các công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật ban
hành kèm theo Quyết định số 282/QĐ ngày 20/6/1980 của
Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà (nay là Bộ
KH&CN) nước xong trước ngày có hiệu lực của
Quy định này thì việc tổ chức đánh giá cấp
Nhà nước được thực hiện theo Quy định 282/QĐ.
2.
Việc đánh giá nghiệm thu kết quả Dự án sản
xuất thử nghiệm cấp Nhà nước được áp
dụng tương tự các nguyên tắc, trình tự, các
bước tiến hành đã được quy định tại Quy
định này. Các tiêu chuẩn đánh giá nghiệm thu kết
quả Dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà
nước được nêu tại phụ lục 4 kèm theo Quy
định này.
3. Các
Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
có thể vận dụng Quy định này để nghiên cứu,
xây dựng và ban hành quy định về việc đánh giá
nghiệm thu các kết quả nghiên cứu các Đề tài
KH&CN thuộc phạm vi quản lý của mình.
KT/BỘ
TRƯỞNG
BỘ
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THỨ
TRƯỞNG
ĐÃ
KÝ
Bùi
Mạnh Hải
Chú
ý: Down load các tệp phụ lục, mẫu đi kèm ở
đây
Phụ lục 1 ; Phụ lục 2 ; Phụ lục 3 ; Phụ lục 4 ; Biểu D1-1-ĐGMOI ; Biểu D1-2-BCNCT-NX ; Biểu D1-3-PNXĐT-CS ; Biểu D1-4-PĐGĐT-CS ; Biểu D1-5-KPĐGĐT-CS ; Biểu D1-6-BBĐGĐT-CS ; Biểu D2-1-BNHS-NN ; Biểu D2-2-ĐONĐG ; Biểu D2-3-DSTG ; Biểu D2-4-BCTĐ ; Biểu D2-5-PNXĐT-NN ; Biểu D2-6-PĐGĐT-NN ; Biểu D2-7-KPĐGĐT-NN ; Biểu D2-8-BBĐGĐT-NN ; Biểu D2-5-PNXDA-NN ; Biểu D2-6-PĐGDA-NN ; Biểu D3-1-GNKQĐG-NN