HƯỚNG
DẪN THỰC HIỆN CÁC QUY CHẾ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Qui định của trường là những nội dung được quy chế của Bộ Giáo dục và Ðào tạo cho phép Hiệu trưởng các trường Ðại học quy định hoặc những nội dung quy chế chưa xác định rõ việc tổ chức thực hiện, Trường cần có quy định thống nhất, nhằm thực hiện những vấn đề cụ thể của quy chế trong phạm vi của Nhà trường. Trong văn bản qui định này không nhắc lại những điều qui chế bắt buộc. Việc thực hiện qui chế phải bám sát qui chế, chỉ những điều giao cho Hiệu trưởng qui định hoặc những nội dung qui chế chưa xác định rõ việc tổ chức thực hiện mới tìm hiểu tại văn bản này. (Trong văn bản này những điều giao cho Hiệu trưởng qui định được in đậm, nghiêng, những nội dung qui chế chưa xác định rõ việc tổ chức thực hiện, Trường qui định để thống nhất thực hiện trong toàn trường được in thường). A. HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN QUI CHẾ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG (QUI CHẾ 25/2006/QĐ-BGD&ĐT):
ĐIỀU 1: (PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG): Thực hiện đối với tất cả các khoá, các hệ đào tạo chính qui của Trường từ năm học 2006-2007.
ĐIỀU 2,3: (CHƯƠNG TRÌNH, HỌC PHẦN, ĐƠN VỊ HỌC TRÌNH): + Nội dung, chương trình đào tạo của Trường tuân thủ các văn bản quản lý Nhà nước của các cấp có thẩm quyền, hướng tới tính khoa học, hiện đại, tiên tiến. Hiệu trưởng giao cho Ban chủ nhiệm các khoa, các tổ trưởng chuyên môn, trợ lý giảng dạy, trợ lý khoa học chịu trách nhiệm xây dựng nội dung đào tạo chuyên ngành chi tiết trên cơ sở chương trình khung khối ngành Ðại học sư phạm theo quyết định của Bộ Giáo dục và Ðào tạo, quyết định những nội dung đào tạo bắt buộc, những nội dung đào tạo tự chọn để Hội đồng đào tạo khoa học Trường xét, duyệt; Hiệu trưởng quyết định chính thức. Ðối với những nội dung đào tạo tự chọn, chỉ tổ chức thực hiện nếu có ít nhất 20 sinh viên đăng kí học tập trên cơ sở có đủ điều kiện về cơ sở vật chất và cán bộ giảng dạy. + Hội đồng đào tạo khoa học Trường tham gia xây dựng kế hoạch đào tạo, Hiệu trưởng quyết định kế hoạch tổ chức đào tạo hàng năm học trong tài liệu Kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo chậm nhất vào tháng 6 hàng năm.
+
Qui định về khối lượng học tập của sinh viên : -
15
tiết học lý thuyết, bài tập được tính bằng 1 đơn vị
học trình. -
30 tiết học thí nghiệm, thực hành, thảo luận được tính
bằng 1 đơn vị học trình. -
Nội dung kiến tập sư phạm, thực tập sư phạm được xác
định bằng toàn bộ các hoạt động và thời gian tổ chức
thực hiện;? Kiến tập sư
phạm : 3 đ.v.h.t;? Thực tập
sư phạm :7 đ.v.h.t.
ĐIỀU
4: (THỜI GIAN VÀ KẾ HOẠCH ĐÀO TẠO): Trường không tổ chức học kì hè, sinh viên có các học phần không đạt, sinh viên có nhu cầu học vượt phải học theo các lớp học được tổ chức trong năm học. Trường giao trách nhiệm cho Trưởng khoa quản lý ngành đào tạo thông báo cho sinh viên nội dung, chương trình đào tạo, hình thức thi, kiểm tra các học phần của các khoá học trong năm học vào đầu mỗi học kì để sinh viên biết, đăng kí tham gia học tập. ĐIỀU 5:(PHÂN NGÀNH ĐÀO TẠO):
+
Việc phân ngành đào tạo được thực hiện từ đầu khoá
học qua kì thi tuyển sinh vào Trường Ðại học sư phạm
của Ðại học Thái Nguyên.Trong
suốt khoá học, Trường không
tổ chức xét tuyển, phân ngành lại. + Hàng năm, Trường triển khai nhiệm vụ xét kết quả học tập cho sinh viên vào 05/9; Thành phần tham gia xét kết quả học tập của sinh viên là Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trực tiếp phụ trách công tác đào tạo,?Trưởng phòng, Phó trưởng phòng Ðào tạo trực tiếp phụ trách, Trưởng phòng CTHSSV, Trưởng khoa. Trưởng khoa chịu trách nhiệm tổ chức xét kết quả học tập sinh viên do khoa quản lý theo qui chế và gửi kết quả cho phòng Ðào tạo (theo mẫu) vào ngày 31/8.
+
Sinh viên phải ngừng học theo qui chế, được biên chế tổ
chức vào lớp đào tạo của khoá kế tiếp (trừ những lớp
đào tạo không có khoá kế tiếp). Tuỳ theo năng lực và
kết quả học tập cụ thể của những sinh viên phải ngừng
học; Hiệu trưởng giao cho Trưởng khoa quản lý ngành đào
tạo xem xét, quyết định cho các sinh viên này được theo
học một số học phần của năm học kế tiếp theo kế
hoạch học tập của từng học kì phù hợp với khả năng
học tập của sinh viên và đảm bảo chất lượng đào tạo.
+ Những sinh viên được học tiếp hoặc ngừng
học đều phải học lại các học phần chưa đạt;
việc học lại các học phần chưa đạt của sinh viên
được qui định - Sinh viên theo học với các lớp học của khoá sau được tổ chức trong năm học. Trong trường hợp này sinh viên không phải đóng góp bất cứ một khoản kinh phí nào liên quan đến việc học, việc thi. Trong hai tuần đầu tiên của mỗi học kì, sinh viên có nhu cầu học lại với khoá sau phải viết đơn xin học lại gửi cho Trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo, Trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo căn cứ khả năng học tập của sinh viên quyết định cho phép và bố trí lớp học khoá sau cho sinh viên theo học và báo cáo với Trường. - Trường hợp phụ thuộc các lý do khách quan sinh viên không thể theo học lại với các lớp khoá sau trong năm học, sinh viên phải trình báo lý do, được Trưởng khoa xác nhận, sinh viên được theo học vào những năm học khác. Trong trường hợp này, việc xét kết quả học tập năm học, những học phần chưa có điều kiện học lại sẽ không tính vào kết quả học tập năm học. - Sinh viên tham gia học lại được dự đủ hai kì thi; nếu không đạt yêu cầu, Trường không tổ chức học lại lần thứ hai. Trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức cho sinh viên đăng kí thi lại vào các kì thi của nội dung đào tạo đó theo kế hoạch năm học. + Trường khuyến khích và tạo điều kiện cho sinh viên được học theo tiến độ khác với tiến độ chung, học thêm chương trình thứ hai. Những sinh viên đủ điều kiện để học vượt thời gian, học thêm chương trình thứ hai của trường phải viết đơn vào đầu mỗi năm học, mỗi học kì, gửi cho Trưởng khoa quản lý ngành đào tạo. Trưởng khoa xác nhận kết quả học tập, gửi cho phòng Ðào tạo để trình Hiệu trưởng quyết định theo thẩm quyền. ĐIỀU 9: (CHUYỂN TRƯỜNG):
+ Những sinh viên trường khác có nhu cầu chuyển đến
học tại trường Ðại học sư phạm - ÐHTN phải có hồ sơ
xin chuyển trường gồm :
+ Ðối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc
có cả lý thuyết và thực hành điểm đánh giá học
phần được qui định : (Trong đó điểm thi, điểm thành phần được làm tròn đến điểm nguyên, điểm học phần sau khi tính được làm tròn đến điểm nguyên theo qui tắc toán học) * Chương trình đào tạo chi tiết của từng học phần cần xác định rõ những nội dung các điểm đánh giá bộ phận của học phần : số điểm kiểm tra thường xuyên trong quá trình học, điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận, điểm đánh giá phần thực hành, điểm chuyên cần, điểm thi giữa học phần, điểm tiểu luận. Trường qui định số bài kiểm tra trong quá trình học : Học phần có khối lượng kiến thức 1,2 đơn vị học trình (đ.v.h.t) kiểm tra 1 bài,? 3,4 đ.v.h.t kiểm tra 2 bài, 5,6 đ.v.h.t kiểm tra 3 bài. * Ngay sau khi kết thúc giảng dạy, giảng viên có trách nhiệm báo cáo Trưởng môn để Trưởng môn báo cáo Trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo toàn bộ điểm kiểm tra và các điểm bộ phận khác theo chương trình chi tiết (nếu có), xác định điểm thành phần của từng sinh viên, để Trưởng khoa quyết định điểm thành phần. * Giảng viên giảng dạy học phần chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra thường xuyên, quản lý và chấm bài kiểm tra, kí xác nhận, trả bài kiểm tra và công khai điểm kiểm tra cho sinh viên. Sinh viên phải lưu giữ bài kiểm tra để có cơ sở đối chiếu kết quả học tập khi có khiếu nại. * Trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo có trách nhiệm gửi điểm thi, điểm thành phần và điểm học phần cho đơn vị quản lý ngành và phòng Ðào tạo theo qui định.
+ Ðối với các học phần chỉ có thực hành và học
phần có học trình thực hành (bao gồm thực hành, thí
nghiệm, thực tế chuyên môn) thuộc
nội dung đào tạo riêng của chuyên ngành :
Cán
bộ hướng dẫn thực hành cho điểm ngay sau khi sinh viên
thực hiện từng bài thực hành theo chương trình theo thang điểm
nguyên từ 0 đến 10. Sinh viên
vắng mặt và sinh viên chưa đạt ở bài thực hành nào thì
phải làm lại bài thực hành đó. Sinh viên vắng mặt không có
lý do chính đáng, sinh viên ý thức kém làm hư hỏng, đỗ
vỡ dụng cụ thí nghiệm thì phải tự túc mẫu vật, hoá
chất, bồi thường dụng cụ thí nghiệm và tiền bồi dưỡng
cán bộ hướng dẫn để làm lại bài thực hành. Phần kinh
phí này do cán bộ hướng dẫn đề nghị, Trưởng khoa quyết định. - Ðiểm
tổng kết đánh giá kết quả học tập của học phần chỉ
có thực hành là trung bình
cộng của các điểm bài thực hành làm tròn đến điểm nguyên.
- Kết
quả học tập học phần lưu tại khoa và phòng ÐT-NCKH-QHQT
phải có đầy đủ điểm các bài thực hành theo chương trình
và điểm tổng kếtcủa
học phần.
+ Ðối với học phần Kiến tập sư phạm, điểm của
học phần là trung bình
cộng điểm đánh giá của Trường phổ thông và điểm bài
tập Tâm lý - Giáo dục làm tròn đến điểm nguyên.
+ Ðối với học phần Thực tập sư phạm (TTSP) (7 đ.v.h.t),
điểm của học phần là trung bình chung làm tròn đến điểm
nguyên giữa Ðiểm tập giảng (TG) (hệ số 2),?
Ðiểm Thực tập sư phạm (TTSP) (hệ số 7);?
trong đó điểm Thực tập sư phạm là điểm trung bình
cộng lấy đến 1 chữ số thập phân giữa điểm giảng dạy
và điểm chủ nhiệm. ĐIỀU 11: (TỔ CHỨC CÁC KÌ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN): + Thời gian tổ chức các kì thi kết thúc học phần được qui định trong kế hoạch năm học;kì thi chính với thời gian ít nhất 3 tuần lễ, kì thi phụ 1 tuần lễ; Các đơn vị liên quan bố trí lịch thi cụ thể đảm bảo đủ thời gian ôn thi cho sinh viên theo qui chế trong kì thi chính, sinh viên chủ động sử dụng thời gian ôn thi cho phù hợp. Việc bố trí lịch thi cần chú ý đến? yêu cầu công bố kết quả thi cho sinh viên trước các kì nghỉ hè, nghỉ tết. + Trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo (hoặc phó Trưởng khoa được Trưởng khoa uỷ quyền) là người chịu trách nhiệm tổ chức kì thi kết thúc học phần (Bao gồm các trách nhiệm Trưởng ban đề thi, Trưởng ban coi thi, Trưởng ban chấm thi theo qui chế tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Ðào tạo). + Trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức in danh sách các phòng thi kết thúc học phần theo mẫu qui định.? Tất cả sinh viên theo học lại với các khoá sau (theo quyết định của Trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo) nếu được dự thi đều phải có tên trong danh sách phòng thi chung với khoá sau.
+ Hiệu trưởng quyết định hình thức thi đối với các
học phần chung do Trường triển khai kế hoạch giảng dạy,
học tập trên cơ sở đề nghị của Trưởng
khoa quản lý nội dung đào tạo. Ðề nghị của Trưởng
khoa quản lý nội dung đào tạo phải gửi cho Trường chậm
nhất 3 tuần trước kì thi theo kế hoạch năm học.
+ Giao cho Trưởng khoa
quản lý nội dung đào tạo quyết
định hình thức thi đối với các học phần do khoa
triển khai cụ thể kế hoạch giảng dạy, học tập . + Toàn bộ đề thi kết thúc học phần được lấy từ ngân hàng đề thi học phần. Các đề thi được giới thiệu và đưa vào ngân hàng đề thi phải được nghiệm thu từ bộ môn, đảm bảo yêu cầu về nội dung, chương trình đào tạo, các qui định về khối lượng kiến thức, thời gian làm bài và đáp án, thang điểm chi tiết : khoa học tự nhiên đến 0,5 điểm, khoa học xã hội đến 1,0 điểm. Qua thực tế sử dụng đối với mỗi học phần, hàng năm ngân hàng đề thi được bổ sung cho phù hợp. + Trong ngân hàng đề thi : Ðề thi vấn đáp đối với các học phần chuyên ngành mỗi thí sinh 1 đề thi; hàng năm bổ sung thêm 20 % số lượng đề thi . Ðối với các học phần chung, bộ đề thi vấn đáp 500 đề thi, hàng năm bổ sung thêm 10 % đề thi mới và giảm 10 % đề thi cũ. Các đề thi vấn đáp có đủ đáp án và kết quả đánh giá theo thang 8 điểm, phần hỏi thêm của cán bộ hỏi thi là 2 điểm. + Kết quả chấm thi (kể cả tiểu luận và bài tập lớn) được 2 cán bộ chấm thi, thống nhất làm tròn đến điểm nguyên;? nếu không thống nhất báo cáo Trưởng khoa quyết định. + Ðiểm thi học phần (bao gồm cả điểm thi và điểm thành phần) phải được công bố cho sinh viên chậm nhất 10 ngày sau khi thi;? đối với một số nội dung đào tạo chung, trong điều kiện qui mô đào tạo lớn có thể cho phép chậm nhất 15 ngày sau khi thi. Khoa quản lý nội dung đào tạo chịu trách nhiệm công bố kết quả thi cho sinh viên sau khi đã gửi về Văn phòng các khoa quản lý ngành và Phòng Ðào tạo KH QHQT (Kể cả nội dung Giáo dục thể chất không chuyên). Việc công bố công khai kết quả thi cho sinh viên được thực hiện bằng biện pháp gửi 1 bản kết quả thi cho lớp trưởng; Lớp trưởng là người chịu trách nhiệm thông báo công khai và lưu giữ kết quả thi của lớp. - Bài thi của sinh viên (kể cả tiểu luận và bài tập lớn) phải được quản lý và tổ chức chấm thi tại văn phòng các khoa theo nguyên tắc tập thể : Một cán bộ giữ chìa khoá, một cán bộ niêm phong; hoặc khoá có hai chìa, mỗi cán bộ giữ 1 chìa khoá. Khi tác nghiệp bài thi : làm phách, lên điểm . . . phải có mặt ít nhất hai cán bộ có trách nhiệm được Trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo giao trách nhiệm. Bài thi được quản lý theo chế độ trên suốt thời gian một học kì, khi đến kì thi của học kì mới, các bài thi được chuyển ra ngoài tủ để tiếp tục quản lý bài thi mới (Toàn bộ các bài thi kết thúc học phần phải được lưu giữ trong hai năm kể từ ngày thi) . Kết quả thi ở bài thi, ở bảng điểm nếu phải sửa chữa, người viết sai phải báo cáo lý do với Trưởng khoa (Hoặc Phó Trưởng khoa được uỷ quyền). Trưởng khoa (Hoặc Phó Trưởng khoa được uỷ quyền) kí xác nhận điểm sửa chữa.
- Chỉ
khi sử dụng phần mềm xử lý việc chuyển đổi thông tin
số báo danh - phách; phách -
điểm mới thực hiện việc đánh phách,
lên điểm theo hai biên bản khác nhau.
Trong trường hợp này cán bộ xử lý thông tin hoàn toàn
chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả.
-
Nếu
không sử dụng phần mềm xử lý việc chuyển đổi thông tin
số báo danh - phách; phách -
điểm thì việc ghép phách,
lên bảng điểm được thực hiện công khai với sự có mặt
của ít nhất 1 trong hai cán bộ chấm thi và 1 cán bộ ghi điểm
từ bài thi lên bảng điểm. Trong
trường hợp này hai cán bộ trực tiếp lên bảng điểm thi
chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả.
-
Kết quả thi của sinh viên phải được quản lý
kịp thời, đầy đủ vào Sổ ghi kết quả học tập của ngành
học, khoá học? sau mỗi học kì. Trưởng
khoa chịu trách nhiệm quản lý tài liệu này vĩnh viễn ở
đơn vị. + Ðiều kiện được thi tốt nghiệp : Chỉ những sinh viên đã đạt điểm 5 trở lên toàn bộ nội dung đào tạo trước kì thi tốt nghiệp mới được dự thi tốt nghiệp. Hàng năm, sau khi có kết quả thực tập sư phạm, Trưởng khoa quản lý ngành đào tạo tổ chức xét điều kiện dự thi tốt nghiệp Trường, gửi báo cáo (theo mẫu) cho phòng Ðào tạo chậm nhất 15/4. Trường tổ chức xét điều kiện dự thi tốt nghiệp và quyết định danh sách thí sinh dự thi.
+ Ðiều kiện được xét làm khoá luận tốt nghiệp :
Sinh viên được đăng kí làm khoá luận tốt nghiệp (thay hai
bài thi cuối khoá) nếu có đủ các điều kiện sau :
-
Sinh
viên có kết quả điểm trung bình chung học tập từ đầu
khoá học đến thời điểm
xét làm khoá luận (2? năm
học hoặc 3 năm tuỳ từng ngành học theo đề nghị của
Chủ nhiệm khoa) tính trên điểm thi lần thứ nhất đạt 7,0
trở lên.
-
Từ
đầu khoá học đến thời điểm xét làm khoá luận chỉ
phải thi lại không quá 10 đ.v.h.t.
- Kết
quả học tập những học phần thuộc nội dung nghiên cứu
của khoá luận đạt điểm 7 trở lên.
Trong trường hợp có quá nhiều sinh viên đủ các điều
kiện trên đây, phụ thuộc
tình hình thực tế về cán bộ hướng dẫn, số lượng đề
tài, khả năng kinh phí lựa chọn khoảng 30 % số sinh viên
dựa vào? kết quả học tập
và nghiên cứu khoa học cho phép làm khoá luận tốt nghiệp.
+ Khối lượng kiến
thức của khoá luận tốt nghiệp là 10 đ.v.h.t.
+ Cán bộ giảng dạy có chức danh
Giảng viên hướng
dẫn không quá 3 sinh viên làm khoá luận tốt nghiệp. Cán bộ
giảng dạy có chức danh Giảng viên chính, PGS, GS hoặc có
học vị Tiến sĩ hướng dẫn không quá 5 sinh viên làm khoá
luận tốt nghiệp.
+ Ban Chủ nhiệm khoa,
các tổ trưởng bộ môn có liên quan, trợ lý giảng
dạy, trợ lý nghiên cứu khoa học khoa xét duyệt, quyết định
nội dung đề tài khoá luận tốt nghiệp;
Xét duyệt và gửi danh sách cán bộ hướng dẫn, danh sách
sinh viên đủ điều kiện làm khoá luận tốt nghiệp (Theo
mẫu) để Hiệu trưởng quyết định chậm nhất trong tháng 9
hàng năm.
+?Ban Chủ nhiệm khoa,
các tổ trưởng bộ môn có liên quan, trợ lý giảng
dạy, trợ lý nghiên cứu khoa học xét duyệt, quyết định các
khoá luận được bảo vệ chậm nhất trong tháng 4 hàng năm.
Ban Chủ nhiệm khoa, các tổ
trưởng bộ môn có liên quan, trợ lý giảng dạy, trợ lý
nghiên cứu khoa học xét duyệt danh sách các hội đồng bảo
vệ khoá luận tốt nghiệp để Hiệu trưởng quyết định
theo chỉ đạo của Hội đồng xét tốt nghiệp Trường.
+ Thi tốt nghiệp
: - Hội đồng xét tốt nghiệp chỉ đạo trực tiếp kì thi tốt nghiệp bao gồm các công việc : ra đề thi, tổ chức thi, coi thi, chấm thi, thành lập các Hội đồng bảo vệ khoá luận tốt nghiệp. -
Hình
thức thi : Viết (Trường hợp thi vấn đáp, trên cơ sở ý
kiến của Trưởng khoa, Hiệu trưởng quyết định và sẽ
chỉ đạo cụ thể việc ra đề thi, tổ chức coi thi, chấm
thi). -
Thời
gian làm bài thi : 180 phút đối với hệ Ðại học, 150 phút
đối với hệ Cao đẳng. -
Sinh
viên làm hai bài thi : một bài
thi về Phương pháp giảng dạy chuyên ngành và một bài thi
về Kiến thức cơ bản chuyên ngành.
(Mỗi bài thi 5 đ.v.h.t đối với hệ Ðại học;
4 đ.v.h.t đối với hệ Cao đẳng);
Nội dung ôn thi do Ban Chủ nhiệm khoa,
các tổ trưởng bộ môn có liên quan, trợ lý giảng
dạy, trợ lý nghiên cứu khoa học quyết định, gửi cho phòng
Ðào tạo, thông báo cho sinh viên ngay sau thời gian thực tập
sư phạm cuối khoá trở về Trường. -
Tất
cả sinh viên đều phải dự
thi bài thi tốt nghiệp? về các
môn khoa học Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
+ Những sinh viên bảo vệ khoá luận và thi tốt nghiệp có điểm dưới 5 đều và những sinh viên chưa đủ điều kiện dự thi tốt nghiệp kì thi thứ nhất đã học lại và không còn học phần chưa đạt được tham gia kì bảo vệ khoá luận và thi tốt nghiệp thứ hai vào tháng 10 hàng năm. Sinh viên tham dự kì thi tốt nghiệp năm nào phải thi theo nội dung thi của năm đó, trừ những trường hợp đặc biệt thay đổi nội dung đào tạo. + Hàng năm, Hội đồng xét tốt nghiệp Nhà trường chỉ đạo việc xét tốt nghiệp cho sinh viên cuối khoá và sinh viên các khoá đã kết thúc khoá học chưa được công nhận tốt nghiệp. Ðể đảm bảo yêu cầu và thời gian xét công nhận tốt nghiệp của Trường, Trưởng khoa chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra kết quả học tập toàn khoá sinh viên do khoa đang quản lý theo qui chế và gửi kết quả xét tốt nghiệp của đơn vị cho phòng Ðào tạo (theo mẫu) đúng thời gian chỉ đạo của Trường. + Ðảm bảo yêu cầu xét, công nhận tốt nghiệp;phù hợp với qui chế quản lý, cấp phát văn bằng, chứng chỉ theo quyết định số 52/2002/QÐ-BGD&ÐT ngày 26/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Ðào tạo, ngay sau khi kết thúc học phần Giáo dục thể chất không chuyên cuối cùng (Học kì 5 đối với hệ Ðại học; Học kì 3 đối với hệ Cao đẳng), khoa Giáo dục thể chất tổng hợp kết quả học tập nội dung Giáo dục thể chất không chuyên toàn khoá, đề nghị danh sách những sinh viên đủ điều kiện được cấp chứng chỉ Giáo dục thể chất cho phòng Ðào tạo để tổng hợp trình Hiệu trưởng quyết định. Trường thông báo quyết định những sinh viên đủ điều kiện được cấp chứng chỉ Giáo dục thể chất cho các đơn vị trong học kì 6 (Hệ Ðại học); học kì 4 (Hệ Cao đẳng). B.
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN QUI CHẾ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ DỰ BỊ
ĐẠI HỌC (HỆ ĐÀO TẠO THEO ĐIỀU 7: (KIỂM TRA VÀ THI): +
Trường
qui định việc tổ chức các kì kiểm tra trong quá trình học
tập như sau :
- Mỗi học kì, mỗi môn học chính khoá có hai bài
kiểm tra;
Thời gian kiểm tra
thực hiện trong tuần học thứ 5 và tuần thứ 10 của mỗi
học kì.
-
Khoa
quản lý nội dung đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức thực
hiện kì kiểm tra kết quả học tập của học sinh
+ Trường qui định việc tổ chức các kì thi
học kì I và học kì II? -
Học
kì I, tổ chức kì thi vào tuần thứ 15 của học kì. -
Học
kì II, tổ chức kì thi vào tuần thứ 16 của học kì. -
Trường
trực tiếp tổ chức kì thi học kì I, học kì II + Sinh viên có nguyện vọng phúc khảo bài thi phải làm đơn đề nghị. Ðơn phải ghi rõ họ tên, số báo danh, tên bài thi xin phúc khảo. Ðơn gửi cho phòng Ðào tạo chậm nhất 15 ngày kể từ ngày kết quả thi được công bố. Mỗi bài thi xin phúc khảo, sinh viên phải nộp lệ phí theo qui định của Qui chế tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Ðào tạo. Nếu sau khi phúc khảo, bài thi được thay đổi kết quả thì sinh viên được hoàn trả khoản lệ phí đã nộp. + Trong vòng 15 ngày kể từ khi hết hạn nhận đơn, Nhà trường sẽ tổ chức chấm phúc khảo các bài thi theo đúng các qui chế hiện hành của Bộ Giáo dục và Ðào tạo và thông báo kết quả cho sinh viên. + Phụ thuộc khả năng kinh phí thu được từ lệ phí, nếu không đủ chi cho các công việc thực tế của các Ban chấm phúc khảo, kinh phí sẽ được chi từ ngân sách theo quyết định của Hiệu trưởng. + Qui định về phúc khảo bài thi được thực hiện trong toàn Trường cho tất cả các hệ đào tạo và các kì thi trong trường.
|